Chăm sóc sức khoẻ nữ công nhân tại các khu công nghiệp

Những năm gần đây, do kinh tế phát triển, nhiều khu công nghiệp mọc lên ở hầu hết các tỉnh, thành ở nước ta đã thu hút một lực lượng lớn nữ công nhân. Tuy nhiên việc chăm sóc sức khỏe (CSSK) cho nữ công nhân tại các khu công nghiệp lại chưa đáp ứng được yêu cầu…

ANH 19

Tình hình lao động nữ trong các khu công nghiệp

Theo Tổng cục thống kê nữ giới chiếm 49,65%  lực lượng lao động, ba ngành nghề tập trung nhiều lao động nữ là dệt may, da giầy và chế biến thực phẩm (Dệt 75%; Da giầy 85%; Chế biến thuỷ sản 85%; giáo dục 70%; Y tế: 63%).

Người lao động nói chung và lao động nữ nói riêng tại nhiều khu công nghiệp hiện nay vẫn đang phải  làm việc trong điều kiện chưa đảm bảo tiêu chuẩn về an toàn vệ sinh lao động.. Điều kiện sản xuất dây chuyền khiến người lao động luôn ở trong trạng thái căng thẳng để bắt kịp tốc độ của dây chuyền  và không làm ảnh hưởng đến các khâu khác. Nữ giới có nhiều đặc điểm về nhân trắc, tâm sinh lý khác biệt so với nam giới,  phản ứng nhạy cảm với các điều kiện lao động bất lợi nhanh hơn so với nam giới. Nữ công nhân làm việc trong các khu công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp xuất khẩu, họ luôn phải làm việc trong điều kiện áp lực cao về thể chất và tinh thần.  Ngoài các áp lực về tâm lý, họ thường xuyên phải làm việc trong điều kiện phơi nhiễm với các yếu tố tác hại nghề nghiệp khác như tiếng ồn, bụi, nhiệt độ cao, hóa chất… trong môi trường sản xuất.

Bên cạnh việc phải làm việc nhiều giờ trong điều kiện lao động không thuận lợi như vậy, điều kiện sinh hoạt tập trung của họ cũng không được thoải mái. Những người công nhân nữ thường phải sống tại các trọ chật chội, điều kiện sinh hoạt thiếu thốn, thiếu nước sạch, điều kiện công trình vệ sinh không đảm bảo, các bữa ăn không đảm bảo dinh dưỡng, thiếu các điều kiện thông tin truyền thông tối thiểu. Điều này cũng ảnh hưởng rất nhiều đến sức khỏe cũng như nhận thức xã hội của họ.

ANH 20

Dịch vụ y tế lao động cơ bản (DVYTLĐCB ) là dịch vụ y tế gần gũi, dễ dàng tiếp cận, gắn liên với sức khỏe và an toàn của người lao động trong quá trình làm việc. Cùng với điều kiện lao động bất lợi, nữ công nhân làm việc trong các khu công nghiệp này chưa được cung cấp đầy đủ DVYTLĐCB, đây cũng là một trong số các nguyên nhân dẫn tới các vấn đề sức khỏe ở các công nhân nữ. DVYTLĐCB có vai trò quan trọng trong việc phòng tránh và hạn chế tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp xảy ra. Theo điều tra của Viện YHLĐ & VSMT về thực trạng cung cấp DVYTLĐCB ở Việt Nam cho thấy nhân lực cung cấp DVYTLĐCB tại các tuyến về cơ bản còn thiếu và chưa được đào tạo đầy đủ về lĩnh vực an toàn vệ sinh lao động (ATVSLĐ) để đáp ứng được các công tác chuyên môn. Tình trạng trang thiết bị quá thiếu ở hầu hết các lĩnh vực và ở hầu hết các tuyến, đặc biệt là ở tuyến huyện. Năng lực cung cấp DV YTLĐCB của các tuyến còn yếu và hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội. Hầu hết các dịch vụ đo hơi khí độc và bụi mới chỉ được thực hiện ở các đơn vị tuyến tỉnh và Bộ/Ngành, tại tuyến nàyđộ bao phủ của cung cấp DV YTLĐCB từ 2,3-13% tùy theo nội dung. Đối với tuyến Quận/Huyện, việc cung cấp DVYTLĐCB còn rất hạn chế. Điều này cho thấy năng lực cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho công nhân đang gặp nhiều khó khăn và độ bao phủ còn rất thấp. Với tình trạng phát triển nhanh số lượng công nhân nữ ở một số ngành chính ở các khu công nghiệp thì gánh nặng chăm sóc sức khỏe cho họ càng nặng nề.

  • Yếu tố ảnh hưởng tới việc CSSK

Thói quen tự điều trị: hành vi tự điều trị phổ biến ở nữ công nhân. Với thời gian làm việc dài và công việc lao động vất vả, cường độ lao động cao đã khiến nữ công nhân thường tự chăm lo cho sức khỏe của mình bằng cách tự điều trị. Bên cạnh đó, việc coi thường các bệnh nhẹ hay việc đã quen với tình trạng bệnh tật của mình cũng góp phần vào thói quen tự điều trị của nữ công nhân.

Áp lực công việc cao: nữ công nhân làm việc trong ngành công nghiệp xuất khẩu, luôn phải làm việc trong điều kiện áp lực cao về tinh thần và thể chất. Làm thêm giờ và quá tải công việc là hiện tượng phổ biến. Đa phần các doanh nghiệp thực hiện làm theo ca, khoán sản phẩm cho người lao động, việc dành thời gian đi khám và điều trị tại y tế công ty có thể ảnh hưởng đến năng suất làm việc. Đó là nguyên nhân khiến họ trì hoãn việc tìm kiếm các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, chỉ đến khi tình trạng bệnh tật khiến họ không thể làm việc được nữa thì họ mới tìm kiếm đến dịch vụ y tế.

Thời gian làm việc ca kíp: hầu hết nữ công nhân với thời gian làm việc trung bình dài (từ 8 – 10 tiếng), chủ yếu làm việc theo ca, kíp. Nữ công nhân làm việc với thời gian làm việc kéo dài nên khi có thời gian rảnh, họ thường nghỉ ngơi để lấy sức làm việc. Điều đó khiến nữ công nhân ít có điều kiện chăm lo cho sức khỏe của bản thân.

Cơ chế, chính sách của các doanh nghiệp: những định mức chi trả, quy định nội bộ của các doanh nghiệp về tổ chức dịch vụ YTLĐCB chưa phù hợp dẫn đến điều trị bệnh/TNLĐ chưa hiệu quả gây tâm lý e ngại không muốn sử dụng dịch vụ y tế công ty các lần tiếp theo. Bên cạnh đó, chế độ chính sách đãi ngộ cho công nhân chưa được thực hiện đầy đủ, dẫn tới chưa khuyến khích được sự tham gia dịch vụ YTLĐCB của người lao động.

Tổ chức dịch vụ y tế lao động cơ bản chưa phù hợp: Nữ công nhân có quan niệm bệnh tật là vấn đề tế nhị, riêng tư nên khi đến khám và điều trị bệnh tại dịch vụ YTLĐ công ty nữ công nhân có tâm ý e ngại, không đảm bảo riêng tư và lo sợ mọi người biết bệnh tật của mình khiến chị em ít tham gia hoạt động này. Thời gian triển khai các hoạt động truyền thông chưa phù hợp, chưa khuyến khích được sự tham gia của người lao động. Bên cạnh đó các dịch vụ còn thiếu tính sẵn có làm hạn chế khả năng tiếp cận dịch vụ cũng như chưa đáp ứng được nhu cầu khám và điều trị bệnh của nữ công nhân khi có nhu cầu.

Chưa hài lòng với chất lượng dịch vụ y tế được cung cấp: bên cạnh những khó khăn mà nữ công nhân gặp phải trong quá trình tiếp cận do việc tổ chức dịch vụ YTLĐCB chưa phù hợp thì chất lượng dịch vụ được cung cấp còn kém chưa đáp ứng được nhu cầu khám và điều trị bệnh/TNLĐ cũng được ghi nhận là một trong những nguyên nhân khiến nữ công nhân không sử dụng dịch vụ y tế công ty mà sẽ tìm kiếm dịch vụ CSSK bên ngoài đáp ứng được nhu cầu của họ.

Chưa thực hiện tốt các quy định pháp luật trong chăm sóc sức khỏe nữ công nhân: hiện nay việc thực hiện luật, quy định về chăm sóc sức khỏe nữ công nhân tại các doanh nghiệp còn nhiều hạn chế. Ngoài quy định bắt buộc về thực hiện khám phụ khoa cho nữ công nhân, chế độ thai sản dành cho nữ công nhân mang thai và đang nuôi con nhỏ thì các hoạt động CSSK đặc thù dành cho nữ công nhân như truyền thông về CSSKSS, hoạt động chăm sóc sức khỏe đặc thù cho nữ công nhân được triển khai tùy thuộc vào khả năng cung cấp của các doanh nghiệp.

  ANH 21

Giải pháp nâng cao chất lượng CSSK cho nữ công nhân

Người sử dụng lao động cần đầu tư hơn nữa về nguồn lực, kinh phí cho việc cung cấp các dịch vụ y tế lao động cơ bản cho người lao động nhằm tăng cường chất lượng các dịch vụ YTLĐ cung cấp tới người lao động. Tăng cường giám sát việc thực hiện các quy định về an toàn vệ sinh lao động cho người lao động.

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục cho nữ công nhân về an toàn vệ sinh lao động nhằm tăng khả năng nhận thức được các yếu tố nguy cơ tại nơi làm việc, nghiêm túc thực hiện các quy định về an toàn vệ sinh lao động. Có ý thức tự chăm sóc sức khỏe cho bản thân, khám phát hiện và điều trị sớm bệnh tật.

Tăng cường phối hợp với các cơ quan ban ngành đoàn thể trong công tác chăm sóc sức khỏe và đảm bảo an toàn cho người lao động.

 

Nguồn: http://moh.gov.vn

Bài viết liên quan

Bình luận

Your email address will not be published. Required fields are marked *